• slider

Lời giải cho bài toán về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.

Ngày nay ô nhiễm môi trường là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Ô nhiễm môi trường không còn là vấn đề của một quốc gia hay một khu vực mà đã trở thành vấn đề toàn cầu. 
Theo thống kê năm 2010 của Cục Chăn nuôi, cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung. Với tổng đàn 300 triệu con gia cầm và hơn 37 triệu con gia súc, nguồn chất thải từ chăn nuôi ra môi trường lên tới 84,45 triệu tấn. Trong đó, nhiều nhất là chất thải từ lợn (24,96 triệu tấn), tiếp đến gia cầm (21,96 triệu tấn) và bò (21,61 triệu tấn).

Chăn nuôi gia súc gia cầm có sự tăng trưởng nhanh cả về quy mô và giá trị mang lại nhiều lợi ích cho người dân và cho nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế mà nó mang lại, thì chăn nuôi cũng đang nảy sinh rất nhiều vấn đề về chất lượng môi trường, đe dọa sức khỏe cộng đồng dân cư địa phương và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên.

Chăn nuôi càng phát triển thì việc phòng chống ô nhiễm môi trường càng trở nên cần thiết và cấp bách. Nếu như người dân đô thị luôn phải đối mặt với tình trạng tiếng ồn, rác thải sinh hoạt, khói bụi... thì người dân ở nông thôn lại phải sống chung với tình trạng ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu, rác thải nông nghiệp và đặc biệt là chất thải từ chăn nuôi.


Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.


Việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quan tâm đúng mức. Hiện mới khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trại, tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm khoảng 10%; hộ có công trình khí sinh học (hầm biogas) chỉ đạt 8,7%; khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có cam kết bảo vệ môi trường chỉ chiếm 0,6%.
 
Lời giải cho bài toán về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.
Chất thải trong chăn nuôi xả trực tiếp ra môi trường là nguyên nhân gây ô nhiễm.

Người dân chăn nuôi chưa có biện pháp xử lý chất thải lỏng trong chăn nuôi, vứt xác gai cầm, gia súc bừa bãi, vào hệ thống thoát nước đơn giản làm cho tình trạng môi trường ô nhiễm không được khắc phục mà có chiều hướng tăng cao. Nhiều năm qua, chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằng 3 biện pháp chủ yếu là: thải trực tiếp ra kênh mương, ao, hồ; được ủ làm phân bón cho cây trồng; và được xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas). Ngoài ra, còn có một số phương pháp khác như xử lý chất thải bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗi nước, bèo lục bình…), xử lý bằng hồ sinh học nhưng chưa được nhân rộng.

Bên cạnh đó việc quản lý của nhà nước về môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi còn lỏng lẻo, chưa rõ ràng, thiếu trách nhiệm, thiếu hợp lý. Mọi người dân chưa nhận thức được sự nguy hiểm của vấn đề ô nhiễm này đối với sức khỏe của gia đình mình. Vì vậy chúng ta cần chung tay và có những biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm trong chăn nuôi.
 

Các giải pháp hữu hiệu.


Để xử lý ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi hiện nay có rất nhiều công nghệ hiện đại, tùy vào đặc điểm từng vùng, từng hộ, từng mô hình chăn nuôi mà các hộ có thể áp dụng các biện pháp khác nhau. Một số biện pháp tham khảo.
 

1. Xây dựng hầm Biogas.


Tùy vào điều kiện từng nơi, từng quy mô doanh trại mà áp dụng việc sử dụng hầm khí biogas cho phù hợp. Xử lý chất thải bằng hầm khí biogas được đánh giá là giải pháp hữu ích nhằm giảm khí thải methane(Khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính) và sản xuất năng lượng sạch. Việc xây dựng hầm khí để xử lý chất thải từ chăn nuôi là biện pháp mang lại tác dụng rấ lớn.  Nguồn phân hữu cơ sau khi đưa vào bể chứa được phân hủy hết làm giảm thiểu mùi hôi, ruồi muỗi và ký sinh trùng hầu như bị tiêu diệt hết trong bể chứa này. Bên cạnh đó sử dụng hầm biogas con có thể tái tạo được nguồn năng lượng sạch từ phế thải chăn nuôi tạo ra khí CH4 phục vụ việc đun nấu thắp sáng.
 
Lời giải cho bài toán về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.
Xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải.

Hiện nay, được sự giúp đỡ, hỗ trợ của nhà nước, nhiều hộ dân chăn nuôi đã xây dựng cho mình hệ thống hầm khí biogas để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của gia đình. Tuy nhiên, một số hầm gas có hiện tượng hoạt động không hiệu quả do xây dựng quá lớn hoặc quá nhỏ so với quy mô chăn nuôi, hoặc việc lựa chọn vật liệu xây dựng không đảm bảo nên hầm nhanh chóng bị thấm, ngấm, một số hầm còn xảy ra sự cố do kỹ thuật xây dựng và thói quen của người dân xả các chất nước có chứa xà phòng, chất sát trùng xuống bể chứa làm cho các vi sinh vật yếm khí bị tiêu diệt hết, do đó chất thải không phân hủy hết. 

Công trình xây dựng hầm khí biogas góp phần giảm phát thải theo 3 cách sau: một là giảm phát thải khí methane từ phân chuồng; hai là làm giảm phát thải khí nhà nhà kính do giảm sử dụng chất đốt truyền thống; ba là giảm phát thải khí nhà kính do sử dụng phân từ phụ phẩm KSH thay thế phân bón hóa học. Như vậy nhờ có công trình khí sinh học mà lượng lớn chất thải chăn nuôi trong nông hộ sẽ được xử lý tạo ra chất đốt và chính điều đó sẽ góp phần giảm phát thải khí nhà kính rất hiệu quả.


2. Ủ phân hữu cơ.


Đây là phương pháp tái chế chất thải từ quá trình chăn nuôi thành chất hữu cơ cho cây trồng. Sử dụng chủ yếu bã phế thải thực vật, phân của động vật mà thông qua hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của vi sinh vật phân hủy và làm tăng cao chất lượng của sản phẩm, tạo nên phân bón hữu cơ giàu chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng. 
 
Lời giải cho bài toán về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.
Phương pháp ủ phân hữu cơ.

Người ta chọn chỗ đất không ngập nước, trải một lớp rác hoặc bã phế thải trồng trọt dầy khoảng 20cm, sau đó lót một lớp phân gia súc hoặc gia cầm khoảng 20-50% so với rác (Có thể tưới nếu phân lỏng, mùn hoai), tưới nước để có độ ẩm đạt 45-50% rồi lại lại trải tiếp một lớp rác, bã phế thải trồng trọt lên trên… đến khi đống ủ đủ chiều cao (Không sử dụng cỏ tranh, cỏ gấu để ủ). Dùng tấm ni lông, bạt… đủ lớn để che kín đống phân ủ. Cứ khoảng một tuần đảo đều đống phân ủ và bổ xung nước cho đủ độ ẩm khoảng 45-50%, che ni long, bạt kín lại như cũ. Ủ phân bằng phương pháp này hoàn toàn nhờ sự lên men tự nhiên, không cchất thải bằ hữu cơ (Compost) là sử dụng chủ yếu(Tuy nhiên nếu được bổ xung men vào đống ủ thì tốt hơn).

Nhờ qua trình lên men và nhiệt độ tự sinh của đống phân ủ sẽ tiêu diệt được phần lớn các mầm bệnh nguy hiểm, thậm chí ủ phân có thể  phân hủy được cả xác động vật chết khi lượng phế thải thực vật đủ lớn. Trong phân ủ có chứa chất mùn làm đất tơi xốp, tăng dung lượng hấp thụ khoáng của cây trồng, đồng thời có tác dụng tốt đến hệ vi sinh vật có ích trong đất. Phân ủ còn có tác dụng tốt đối với tính chất lý hoá học và sinh học của đất, không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật và giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái. Tuy nhiên phương pháp này không được xử dụng với số lượng chất thải lớn.
 

3. Xử lý bằng ô zôn.


Một phương pháp xử lý nhanh chóng và triệt để các chất hữu cơ và các khí độc sinh ra trong các bể gom nước thải, bể lắng, người ta đã bổ sung khí ô-zôn (O3)vào quá trình sục khí xử lýhiếu khí nhờ các máy tạo ô-zôn công nghiệp. Ô-zôn là chấtkhông bềndễ dàng bị phân hủy thành ôxy phân tử và ôxy nguyên tử: O3 → O2 + O. Ô xy nguyên tử tồn tại trong thời gian ngắn nhưng có tính ô xi hóa rất mạnh làm cho quá trình xử lý chất thải nhanh và rất hữu hiệu. 
 
Lời giải cho bài toán về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.
Quy trình xử lý bằng ô zôn.

Ngoài ra quá trình này còn tiêu diệt được một lượng vi rút, vi khuẩn, nấm mốc và khử mùi trong dung dịch chất thải. So với phương pháp sục khí thì phương pháp này có tốn kém hơn nhưng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cần chú ý thận trọng khi sử dụng ô-zôn trong xử lý môi trường là phải có nồng độ phù hợp, không dư thừa vì chính ô-zôn cũng là chất gây độc.

Còn có rất nhiều phương pháp xử lý chất thải với công nghệ cao, tuy nhiên việc đầu tiên chúng ta cần làm đó là tuyên truyên với người dân về hậu quả của việc thải trực tiếp các chất thải chăn nuôi vào môi trường để nâng cao ý thức của người dân để người họ có thể tham gia vào công cuộc bảo vệ môi trường sống một cách tích cực.

Đăng nhập để post bài

Học tiếng Hàn tại tphcm